Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ hẹp ống sống cổ

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.
PDF Download: 2 View: 1

Indexing

CÁC SỐ TỪ 2011-2023
Tạp chí Y Dược Học

Tóm tắt

Mục tiêu: Chủ đề này khảo sát đặc điểm lâm sàng và hình ảnh MRI của bệnh nhân hẹp ống sống cổ. Xác định độ phù hợp giữa lâm sàng với mức độ hẹp ống sống trên MRI theo phân độ Kang. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang với 55 bệnh nhân được chẩn đoán hẹp ống sống cổ mắc phải và được chụp cộng hưởng từ cột sống cổ tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế. Kết quả: Độ tuổi trung bình là 49,6 ± 11.2, tỉ lệ nam/nữ ≈ 1,6:1. Nhóm tuổi 40-60 chiếm tỷ lệ nhiều nhất (67,3%). Triệu chứng đau cột sống cổ là triệu chứng thường gặp nhất, rối loạn phản xạ gân chi trên thường gặp ở 72,7% bệnh nhân. Biểu hiện phối hợp cả ba hội chứng: cột sống cổ, chèn ép rễ và chèn ép tủy là 54,5%. Nguyên nhân thường gặp nhất làm hẹp ống sống cổ mắc phải: thoát vị đĩa đệm 92,7%. Mức độ hẹp ống sống cổ theo phân độ Kang năm 2011; 50,9% hẹp độ 1, 36,4% hẹp độ 2, 12,7% hẹp độ 3. Bệnh nhân độ 1 theo phân độ Kang thường có biểu hiện tổn thương tủy trên lâm sàng ở độ 0 (66,7%). Bên cạnh đó, khi bệnh nhân hẹp ống sống độ 2 có mức độ 1 theo thang điểm Nurick với 50%. Khi đường kính ống sống hẹp độ 3 thì 100% bệnh nhân có điểm Nurick ≥ 2. Kết luận: Độ phù hợp giữa phân độ hẹp ống sống cổ Kang và thang điểm Nurick trên lâm sàng ở trên mức trung bình với Kappa = 0,58.
https://doi.org/10.34071/jmp.2022.1.8
Đã xuất bản 28-02-2022
Toàn văn
PDF Download: 2 View: 1
Ngôn ngữ
Số tạp chí Tập 12 Số 1 (2022)
Phân mục Nghiên cứu
DOI 10.34071/jmp.2022.1.8
Từ khóa magnetic resonance imaging, cervical spine pain, cervical canal stenosis cộng hưởng từ, đau cột sống cổ, hẹp ống sống cổ

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Y Dược Huế

Nguyễn, H. Q., & Lê, V. N. C. (2022). Đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ hẹp ống sống cổ. Tạp Chí Y Dược Huế, 12(1), 60–65. https://doi.org/10.34071/jmp.2022.1.8