Tóm tắt
Ung thư vú bộ ba âm tính là phân nhóm ung thư vú có độ ác tính cao, đặc trưng bởi sự thiếu biểu hiện dấu ấn của thụ thể estrogen và thụ thể progesterone cũng như không có biểu hiện của khuếch đại dấu ấn thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER2). Do thiếu các đích phân tử gắn thuốc trên tế bào nên trong vài thập niên qua, hóa trị độc tế bào truyền thống đối với ung thư vú bộ ba âm tính là phương pháp điều trị toàn thân chủ yếu. Tuy nhiên, do thiếu các liệu pháp nhắm vào đích phân tử và tiên lượng xấu của ung thư vú bộ ba âm tính nên đã thúc đẩy các nỗ lực nghiên cứu để tìm ra các đích gắn thuốc điều trị hiệu quả hơn nhằm cải thiện kết quả lâm sàng. Hiện tại, một số thuốc ức chế poly (ADP-ribose) polymerase (PARP), thuốc ức chế chốt kiểm miễn dịch và thuốc liên hợp gắn kháng thể với hóa trị độc tế bào đã được FDA chấp thuận để điều trị ung thư vú bộ ba âm tính. Ngoài ra, các tác nhân nhắm vào con đường dẫn truyền tín hiệu tế bào, con đường sinh mạch trong ung thư, sửa chữa tổn thương gene và chu kỳ phân chia tế bào đang được nghiên cứu tiền lâm sàng và nghiên cứu lâm sàng. Trong báo cáo tổng quan này, chúng tôi nêu tóm lược một số thành tựu nghiên cứu hiện nay áp dụng trong điều trị ung thư vú bộ ba âm tính dựa trên các đích phân tử gắn thuốc như các thuốc điều trị đích phân tử, thuốc điều trị miễn dịch và thuốc liên hợp kháng thể - hóa trị cũng như cũng như đề cập đến một số hướng nghiên cứu đang được tiến hành trong điều trị sinh học ung thư vú bộ ba âm tính.| Đã xuất bản | 26-07-2022 | |
| Toàn văn |
|
|
| Ngôn ngữ |
|
|
| Số tạp chí | Tập 12 Số 4 (2022) | |
| Phân mục | Tổng quan | |
| DOI | 10.34071/jmp.2022.4.2 | |
| Từ khóa | triple-negative breast cancer (TNBC), breast cancer, estrogen ung thư vú, ung thư vú bộ ba âm t, estrogen |
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Y Dược Huế
Nguyễn, V. C. (2022). Đích sinh học phân tử gắn thuốc và triển vọng ứng dụng trong điều trị ung thư vú bộ ba âm tính. Tạp Chí Y Dược Huế, 12(4), 17–23. https://doi.org/10.34071/jmp.2022.4.2






