Khảo sát tình trạng viêm tại chỗ và các yếu tố liên quan trên người bệnh có đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.
PDF Download: 1 View: 2

Indexing

CÁC SỐ TỪ 2011-2023
Tạp chí Y Dược Học

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Viêm tại chỗ do đặt catheter tĩnh mạch ngoại vi (CTMNV) là vấn đề cần quan tâm trong chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ viêm tại chỗ do đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến viêm tại chỗ do đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng bộ câu hỏi tự tạo, lấy sẵn thang điểm VIP (Visual Infision Phlebitis Scale) về mức độ viêm tĩnh mạch, được tiến hành trên 340 bệnh nhân điều trị nội trú có đặt catheter tĩnh mạch tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị. Kết quả: Tỷ lệ người bệnh viêm tĩnh mạch chung sau đặt CTMNV là 7,9%. Viêm tĩnh mạch phân độ 1 chiếm tỷ lệ nhiều nhất (70,4%). Viêm tĩnh mạch ngoại vi có liên quan với người bệnh > 70 tuổi, điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực chống độc, số lần đặt > 3 lần, thời gian lưu 24 - 48 giờ, kích cỡ 20 G, người bệnh có truyền hóa chất với p < 0,05. Kết luận: Tỷ lệ người bệnh viêm tĩnh mạch sau đặt CTMNV là 7,9%. Cần theo dõi và phát hiện sớm viêm tại chỗ sau đặt catheter để nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
https://doi.org/10.34071/jmp.2022.6.18
Đã xuất bản 15-11-2022
Toàn văn
PDF Download: 1 View: 2
Ngôn ngữ
Số tạp chí Tập 12 Số 6 (2022)
Phân mục Nghiên cứu
DOI 10.34071/jmp.2022.6.18
Từ khóa local inflammation, peripheral intravenous catheter Viêm tại chỗ, catheter tĩnh mạch ngoại vi

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Y Dược Huế

Võ, T. P. A., Trương, T. H., Trương, T. N., & Nguyễn, T. T. (2022). Khảo sát tình trạng viêm tại chỗ và các yếu tố liên quan trên người bệnh có đặt catheter tĩnh mạch ngoại biên tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị. Tạp Chí Y Dược Huế, 12(6), 136–142. https://doi.org/10.34071/jmp.2022.6.18