[800] So sánh mức độ vi kẽ giữa các kỹ thuật trám đắp lớp phục hồi xoang loại ii bằng composite với kỹ thuật trám nguyên khối

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.
PDF Download: 0 View: 0

Indexing

CÁC SỐ TỪ 2011-2023
Tạp chí Y Dược Học

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Trong lĩnh vực nha khoa phục hồi thẩm mỹ, phục hồi xoang loại II bằng vật liệu composite đã và đang là sự lựa chọn phổ biến của các bác sĩ. Để kiểm soát tình trạng hở vi kẽ của phục hồi, một số phương pháp có thể thực hiện trong đó phải kể đến các kỹ thuật trám đắp lớp nhằm khắc phục hiện tượng co ngót do trùng hợp của vật liệu. Tuy nhiên, kỹ thuật trám đắp lớp đòi hỏi phải thao tác nhiều bước, dễ tạo bọt khí nếu thực hiện không đúng kỹ thuật. Sự ra đời của vật liệu composite trám nguyên khối đã đưa ra thêm 1 lựa chọn thay thế với ưu điểm cho phép đặt và trùng hợp với một lớp vật liệu có độ dày lớn, giảm thời gian thao tác. Chúng tôi thực hiện đề tài nhằm so sánh mức độ vi kẽ giữa các kỹ thuật trám đắp lớp với kỹ thuật trám nguyên khối trong phục hồi xoang loại II. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được được thực hiện trên 40 răng cối nhỏ vĩnh viễn hàm trên và hàm dưới được nhổ. Mẫu nghiên cứu gồm 40 răng cối nhỏ được tạo xoang loại II ở cả mặt bên gần và mặt bên xa và được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm (mỗi nhóm 20 xoang): nhóm 1: Phục hồi bằng kỹ thuật trám nguyên khối, nhóm 2: Phục hồi bằng kỹ thuật trám đắp lớp theo chiều ngang, nhóm 3: phục hồi bằng kỹ thuật trám đắp lớp theo chiều dọc, nhóm 4: phục hồi bằng kỹ thuật trám đắp lớp theo dạng xiên. Thực hiện chu trình nhiệt và ngâm răng trong phẩm nhuộm xanh methylene 2% trong 24 giờ. Cắt đôi răng theo chiều ngoài trong đi qua giữa phục hồi. Ghi nhận mức độ thâm nhập ở thành nướu. Kết quả: Nhóm trám nguyên khối có trung bình mức điểm vi kẽ lớn hơn so với nhóm trám đắp lớp theo chiều ngang, trám đắp lớp theo chiều dọc và trám đắp lớp theo dạng xiên (p < 0,05). Nhóm trám nguyên khối có chiều dài thâm nhập phẩm nhuộm trung bình lớn hơn so với nhóm trám đắp lớp theo chiều dọc và trám đắp lớp theo dạng xiên (p < 0,05). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chiều dài thâm nhập phẩm nhuộm trung bình giữa nhóm trám nguyên khối và nhóm trám đắp lớp theo chiều ngang. Kết luận: Kỹ thuật trám nguyên khối tạo vi kẽ nhiều hơn so với các kỹ thuật trám đắp lớp trong phục hồi xoang loại II bằng composite.

Từ khóa: phục hồi xoang loại II, trám nguyên khối, trám đắp lớp,...

https://doi.org/10.34071/jmp.2026.5.800
Đã xuất bản 28-09-2026
Toàn văn
PDF Download: 0 View: 0
Ngôn ngữ
Số tạp chí Tập 16 Số 5 (2026)
Phân mục Nghiên cứu
DOI 10.34071/jmp.2026.5.800
Từ khóa

Creative Commons License

công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International .

Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế

Đỗ, P. Q. M., Lê, T. Q. T., Nguyễn, T. M., & Trần, T. T. N. (2026). [800] So sánh mức độ vi kẽ giữa các kỹ thuật trám đắp lớp phục hồi xoang loại ii bằng composite với kỹ thuật trám nguyên khối. Tạp Chí Y Dược Huế, 16(5), 222–228. https://doi.org/10.34071/jmp.2026.5.800