Tóm tắt
Đặt vấn đề: Chấn thương hàm mặt nói chung, gãy xương hàm trên nói riêng xu hướng ngày càng gia tăng do tai nạn giao thông. Do hình thái tổn thương ngày càng trở nên đa dạng, ngày nay rất ít gặp gãy xương hàm trên đơn thuần và thường có gãy phối hợp xương hàm trên với các khối xương sọ mặt liên quan. Chụp cắt lớp vi tính ưu việt khi phát hiện đầy đủ các đường gãy, các hướng di lệch của xương, các tổn thương sọ não, phần mềm của tầng mặt trên và trong hốc mắt.
Mục tiêu: 1. Mô tả đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính gãy xương hàm trên. 2. Khảo sát các tổn thương chấn thương phối hợp với gãy xương hàm trên.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang gồm 123 bệnh nhân gãy xương hàm trên tại Bệnh viện Trường Đại học Y - Dược Huế và Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2023 đến tháng 8/2024.
Kết quả: Độ tuổi trung bình là 35,54 ± 15,60; nam (75%) nhiều hơn nữ. Gãy xương vùng đầu mặt phối hợp gặp ở 94,3% bệnh nhân trong đó gãy các thành xoang ưu thế với 85,4%; gần một nửa bệnh nhân có chấn thương não phối hợp (43,9%) trong đó xuất huyết não lên đến 22,8%; chấn thương nhãn cầu, chấn thương ngực, bụng và gãy xương chi phối hợp ít gặp hơn.
Kết luận: Gãy xương hàm trên một phần hay gặp là gãy thành trước xoang hàm, loại gãy toàn bộ hay gặp là gãy ngang Le Fort II (72,7%). Ít khi gặp gãy xương hàm trên đơn thuần mà thường có tổn thương các cơ quan khác phối hợp. Chụp CLVT sọ mặt trên bệnh nhân gãy xương hàm trên là cần thiết, đặc biệt ở những bệnh nhân có kế hoạch phẫu thuật.
| Đã xuất bản | 28-06-2026 | |
| Toàn văn |
|
|
| Ngôn ngữ |
|
|
| Số tạp chí | Tập 16 Số 3 (2026) | |
| Phân mục | Nghiên cứu | |
| DOI | 10.34071/jmp.2026.3.1232 | |
| Từ khóa | Xương hàm trên, cắt lớp vi tính, chấn thương sọ não Maxillary fractures, computed tomography, traumatic brain injury |
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
Hoàng Ngọc Lan. Nghiên cứu chức năng nhai trên bệnh nhân sau điều trị gãy xương hàm trên Le Fort I, Le Fort II và gò má cung tiếp [Luận án Tiến sĩ Y học]. Hà Nội: Đại học Y Hà Nội; 2015.
Cui J, Chen L, Guan X, Ye L, et al. Surgical planning, three-dimensional model surgery and preshaped implants in treatment of bilateral craniomaxillofacial post-traumatic deformities. J Oral Maxillofac Surg. 2014;72(6):1138.e1-1138.e14.
Mao J, Li X, Cao K, Xue J, et al. Epidemiology of maxillofacial fractures in northwest China: an 11-year retrospective study of 2240 patients. BMC Oral Health. 2023;23(1):313.
Oliveira-Campos GH, Lauriti L, Yamamoto MK, Júnior RC, et al. Trends in Le Fort fractures at a South American trauma care center: characteristics and management. J Maxillofac Oral Surg. 2016;15(1):32-37.
Mohajerani SH, Asghari S. Pattern of midfacial fractures in Tehran, Iran. Dent Traumatol. 2011;27(2):131-134.
Đặng Văn Trí. Khảo sát đặc điểm lâm sàng, X-quang và kết quả điều trị phẫu thuật gãy xương hàm trên [Luận văn Chuyên khoa II]. Huế: Trường Đại học Y Dược Huế; 2020.
Nguyễn Văn Đông, Phạm Hoàng Tuấn. Đặc điểm lâm sàng, X-quang gãy xương hàm trên tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội. Tạp chí Y học Việt Nam. 2022;520(1A):14-17.
Nguyễn Văn Khánh. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính hình nón và kết quả điều trị gãy phức hợp xương hàm trên, gò má - cung tiếp [Luận văn Thạc sĩ Răng Hàm Mặt]. Huế: Trường Đại học Y Dược Huế; 2017.






