Tóm tắt
giáo dục y khoa trong vài năm, nhưng vẫn còn hạn chế về số lượng nghiên cứu, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục điều dưỡng. Mục đích: Đánh giá hiệu quả và khả năng ứng dụng UBL trong khóa đào tạo điều dưỡng về chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng trên 70 sinh viên điều dưỡng tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Huế được chọn ngẫu nhiên và chia thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu (N2) được giảng dạy bằng UBL và nhóm chứng (N1) được giảng dạy truyền thống. Thực hiện kiểm tra trước và sau khóa học về đánh giá kiến thức (thang điểm DKAT2), thái độ (thang điểm DAS) và sự tự tin (thang điểm CODE) về chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ. Kết quả: điểm kiểm tra sau khóa học cao hơn trước khóa học ở cả hai nhóm (p < 0,001). Trong DKAT2 và DAS, điểm trung bình sau khóa học ở nhóm nghiên cứu cao hơn nhóm chứng: DKAT2 (Mean)) (p < 0,005): N2 = 16,86, N1 = 15,48; DAS (Mean): N2 = 102,46, N1 = 98,37 (T-test N2-N1 = 1,233, p = 0,222). Trong thang CODE, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê ở cả hai nhóm (Chi-Square = 0,108, p = 0,743). Đánh giá khả năng ứng dụng của UBL: 68,6% sinh viên đánh giá tốt về khả năng ứng dụng của UBL (Chi-Square = 4.829, p = 0.028). Kết luận: UBL là một bước đột phá về công nghệ thông tin ứng dụng trong giáo dục, đây là một giải pháp công nghệ hợp lý trong đào tạo và đánh giá năng lực chuyên môn trong đào tạo ngành y.| Đã xuất bản | 15-11-2022 | |
| Toàn văn |
|
|
| Ngôn ngữ |
|
|
| Số tạp chí | Tập 12 Số 6 (2022) | |
| Phân mục | Nghiên cứu | |
| DOI | 10.34071/jmp.2022.6.25 | |
| Từ khóa | Ubiquitous-based Learning, Dementia, nursing training Ubiquitous-based learning, sa sút trí tuệ, đào tạo điều dưỡng |
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2022 Tạp chí Y Dược Huế
Ngô, T. M. T., & Nguyễn, T. A. P. (2022). Đánh giá hiệu quả và khả năng ứng dụng UBL (ubiquitous-based learning) trong khoá đào tạo điều dưỡng về chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ. Tạp Chí Y Dược Huế, 12(6), 186–192. https://doi.org/10.34071/jmp.2022.6.25






