Tóm tắt
Đặt vấn đề: U cận hạch giao cảm (Paraganglioma) ở bàng quang là loại u cực kỳ hiếm gặp, chiếm tỉ lệ dưới 0,06% các u ở bàng quang. Do triệu chứng và hình ảnh không đặc hiệu, bệnh thường bị chẩn đoán nhầm thành ung thư biểu mô đường niệu, nguy cơ xảy ra biến chứng tim mạch nghiêm trọng trong quá trình can thiệp. Trình bày ca bệnh: Bệnh nhân nam, 56 tuổi, tiền sử tăng huyết áp và đái tháo đường; triệu chứng đái máu và đái buốt. Chụp cộng hưởng từ thấy thành bàng quang lệch trái, gần cổ bàng quang có u (10 x 14 x 15 mm), bờ đều, sùi vào lòng bàng quang. Soi bàng quang thấy vị trí 12 h, sát cổ bàng quang có khối u (30 x 10 mm), cuống rộng, dạng polyp. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt u bàng quang qua nội soi niệu đạo (TURBT). Kết quả mô bệnh học cho thấy tế bào u có nhân nhỏ, đều; bào tương rộng, dạng hạt, sắp xếp tạo thành các ổ, ngăn cách bởi các vách xơ giàu mạch, gợi cấu trúc “Zellballen”. Hóa mô miễn dịch dương tính mạnh, lan toả với Chromogranin; dương tính với S100 và âm tính với Synaptophysin, CK, GATA3. Chẩn đoán là U cận hạch giao cảm ở bàng quang, PASS: 0 điểm. Kết luận: Chẩn đoán xác định u cận hạch giao cảm ở bàng quang dựa chủ yếu vào đặc điểm mô bệnh học và hóa mô miễn dịch. Phẫu thuật TURBT là lựa chọn hiệu quả cho khối u nhỏ (< 30 mm). Áp dụng hệ thống phân độ cho u tủy thượng thận và u cận hạch giao cảm (GAPP) là cần thiết trong dự báo tiềm năng di căn. Theo dõi nên được thực hiện định kỳ, ít nhất trong 10 năm.| Đã xuất bản | 10-08-2026 | |
| Toàn văn |
|
|
| Ngôn ngữ |
|
|
| Số tạp chí | Tập 16 Số S-2 (2026) | |
| Phân mục | Báo cáo trường hợp | |
| DOI | 10.34071/jmp.2026.S-2.41 | |
| Từ khóa | Paraganglioma, zellballen structure, immunohistochemistry U cận hạch giao cảm, cấu trúc Zellballen, hóa mô miễn dịch |
công trình này được cấp phép theo Creative Commons Attribution-phi thương mại-NoDerivatives 4.0 License International . p>
Bản quyền (c) 2026 Tạp chí Y Dược Huế
Nguyễn, V. T., & Lê, T. D. (2026). U cận hạch giao cảm ở bàng quang: Báo cáo một trường hợp và hồi cứu y văn. Tạp Chí Y Dược Huế, 16(S-2), 315–320. https://doi.org/10.34071/jmp.2026.S-2.41






